Hỏi đáp về ‘Tiếp cận vốn tự nhiên’ (Natural capital approach)

Vốn tự nhiên: nếu chúng ta chỉ quan tâm đến trữ lượng (stocks) thì liệu lưu lượng (flows) có tự ổn định không?

Khái niệm ‘Vốn tự nhiên’ (natural capital) đang được nhiều nhà kinh tế & chính sách quan tâm. Bài trao đổi dưới dây giữa Julian Morgan và Dieter Helm sẽ giúp giải thích chi tiết nhiều khái niệm thú vị liên quan đến chủ đề ‘tiếp cận vốn tự nhiên’ Natural capital approach (NCA).

Vốn tự nhiên là gì?

Vốn tự nhiên là những của cải/tài sản do thiên nhiên tạo ra dưới dạng không tái tạo (vd: dầu mỏ) hoặc tái tạo (vd: cá). Rất nhiều thách thức hiện nay liên quan đến vốn tự nhiên tái tạo bởi vì dù về lý thuyết các nguồn vốn này có thể ‘tái tạo’ nhưng nếu việc sử dụng/khai thác vượt quá ngưỡng nào đó thì rất khó có thể phục hồi.

Phân biệt ‘vốn tự nhiên’ với ‘dịch vụ hệ sinh thái’?

Điểm khác biệt đó là ‘trữ lượng tài sản’ (stocks of assets) và ‘lưu lượng dịch vụ’ (flows of services). Cách tiếp cận vốn tự nhiên là cách tiếp cận dựa vào nguồn tài sản và do vậy có thể giúp giải thích cho các ngưỡng quan trọng của nguồn vốn tái tạo.

Vậy mục đích của cách tiếp cận vốn tự nhiên là gì?

Mục đích chính của NCA là thiết lập khung ý tưởng nhằm đánh giá các chọn lựa chính sách liên quan đến môi trường. Tuy nhiên cũng có thể thấy rằng thông qua ngăn ngừa việc sử dụng quá mức vốn tự nhiên, cách tiếp cận này chắc chắn mang lại những hệ quả tốt hơn cho môi trường.

Ví dụ việc xây dựng con đường cao tốc xuyên qua vùng Twyford Down nối London với Southampton ở phía nam nước Anh. Nhiều cuộc biểu tình đã phản đối việc xây dựng con đường này do nguy cơ mất các vùng đất ngập nước dự trữ cho canh tác nông nghiệp và tiếng ồn gây ra cho các nhà thờ lân cận. Có 3 phương án đưa ra là làm đường, xây hầm ngầm, và làm đường tàu cao tốc. Cuối cùng phương án làm đường được chọn vì chi phí rẻ hơn hai phương án kia (đường hầm tốn 90triệu bảng). Tuy nhiên từ các cuộc biểu tình phản đối ở vụ này đã dẫn đến việc hình thành các yêu sách xem xét đánh giá tác động môi trường, xã hội của các dự án xây dựng khác sau đó.

Vậy đáng lẽ nên sử dụng cách đánh giá nào để giúp cho chính quyền quyết định giữ lại vùng Twyford Down? Thực ra không nhất thiết phải đánh giá đầy đủ toàn diện mà chỉ cần chỉ ra rằng lợi ích mang lại lớn hơn con số 90 triệu bảng. Điều này cho thấy NCA có thể không đảm bảo chắc chắn liệu các nhà hoạch định chính sách có lựa chọn đúng, nhưng ít ra nó cũng giúp ‘loé tia sáng’ vào quá trình ra quyết định.

Liệu chúng ta có chắc rằng các giá trị vốn tự nhiên được duy trì?

Do các quyết định mang tính dân chủ (nhiều người tham gia) nên chắc chắn các quyết định này phản ánh được giá trị lâu dài. Vậy liệu người ta có đủ thông tin hoặc hiểu biết để ra các quyết định như vậy không? Điều nguy hiểm đó là một số người cho rằng mình ‘giỏi hơn’ và do đó cố áp đặt ý thích của họ lên toàn xã hội. Tốt hơn hết, ông đề nghị, là nên cung cấp thông tin đầy đủ để giúp người dân đưa ra các chọn lựa đúng đắn.

Liệu có thể làm được gì khi mức tổn hại đã vượt quá ngưỡng (cho phép) nhưng việc tàn phá vẫn tiếp tục diễn ra?

Có thể chúng ta chưa hẳn khởi đầu ở một tình huống tốt đẹp – khi mà vốn tự nhiên đang bị suy thoái, đặc biệt là trong nền kinh tế hiện nay khi mọi thứ đều tập trung vào tiêu thụ nhiều hơn là tái đầu tư để duy trì tài sản. Tuy nhiên trước tiên cần duy trì nguồn vốn tự nhiên, sau đó mới xem xét chi phí cần thiết để phục hồi lại chúng. Đánh giá dịch vụ hệ sinh thái rất quan trọng, nhưng việc xem xét ngưỡng đe doạ và đặc điểm hệ thống cũng rất cần thiết. Việc xem xét đặc điểm hệ thống dẫn đến thảo luận rộng hơn về ‘giới hạn của các công cụ chính sách định biên trong chuyển đổi’.

Vốn tự nhiên được giới thiệu vào hệ thống chính trị như thế nào.

Hay hỏi cách khác: liệu bản chất tập thể vốn có của vốn tự nhiên có phù hợp với nền kinh tế chính trị thiên về chủ nghĩa cá nhân duy lý hay không?

Đồng ý rằng nhiều nguồn vốn tự nhiên thuộc về loại hàng hoá công (public goods), nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả mọi việc quản lý đều do nhà nước. Vốn tự nhiên cũng có thể do các tổ chức độc lập quản lý như Quỹ tín thác quốc gia (National Trust Fund) hoặc Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã (Wildlife Trust Fund).

Xét trên khía cạnh thực tế thì nên duy trì/bảo tồn dịch vụ hệ sinh thái (ecosystem services) hơn là duy trì/bảo tồn tài sản (assets) ở mọi nơi?

Nên nhìn nhận một cách thực tế hơn với câu hỏi này. Chẳng hạn ở các bãi săn gà gô (grouse moors) vẫn tồn tại các dịch vụ hệ sinh thái, tuy nhiên bãi này cũng bao gồm cả đầm lầy, đa dạng sinh học, v…v. Cách tiếp cận-bằng-tài sản (asset based approach) nhấn mạnh rằng chúng ta để lại cho đời sau bằng tài sản chứ không phải bằng dịch vụ.

Định giá bằng tiền tệ là việc không tránh khỏi
Q: Liệu khái niệm vốn tự nhiên phụ thuộc thế nào vào việc định giá bằng tiền tệ nguồn vốn này?

Trong khi việc định giá còn gây nhiều tranh cãi và nhiều vấn đề thì việc định giá này là điều không thể tránh khỏi khi phải đưa ra các quyết định lựa chọn khó khăn liên quan đến môi trường.

Q: Các tiếp cận này đã tính đến yếu tố ‘bù trừ’ – khi thiệt hại ở nơi này có thể được bù lại nhờ cải thiện ở nơi khác. Liệu những tổn hại có dễ xác minh hơn so với cải thiện vốn tự nhiên?

Một vài tổn hại là không thể tránh khỏi dưới áp lực kinh tế và xã hội. Cách duy nhất để bảo tồn và cải tiến trữ lượng vốn tự nhiên là sử dụng khung pháp lý yêu cầu bồi hoàn một khi xảy ra thiệt hại.

Q: Báo cáo về bền vững và kiểm toán vốn tự nhiên của công ty là thế nào?

à Nhiều nhà đầu tư muốn biết rõ hơn về các khoản nợ (trách nhiệm giải trình), và làm thế nào để thực hiện được điều này rất quan trọng. Uỷ ban về Vốn tự nhiên đang cung cấp các mẫu biểu và ví dụ để giúp các doanh nghiệp làm điều này.

dungo, 07.02.2015

Nguồn: Greenallianceblog.org.uk (incl. audio)

Advertisements

About dungo

Work on forest and natural resource management aspects. Interested in nature, human-being, and socio-ecological systems, esp. how human activities shape the nature including ecology, landscape, and habitats.
This entry was posted in QLTNTN. Bookmark the permalink.